suy dinh dưỡng thể phù

thực phẩm trong nhà vẫn có thể có nguy cơ suy dinh dưỡng! Có đủ tiền và ăn đủ ba bữa mỗi ngày cũng không giúp một số người tránh khỏi bị suy dinh dưỡng. Suy Dinh Dưỡng Có Thể Do Nhiều Yếu Tố Khác Nhau Các yếu tố gây ra hoặc góp phần gây ra suy dinh dưỡng: Suy dinh dưỡng thể béo phì: Nguyên nhân và hướng điều trị. 13 thg 12, 2021 — Suy dinh dưỡng thể béo phì là tình trạng mất cân bằng các nhóm dưỡng chất, trẻ được nuôi dưỡng chủ yếu từ thực phẩm có nguồn gốc chất béo, chất …. => Xem thêm. Suy dinh dưỡng nặng . Thể phù: Còn gọi là thể KWASHIORKOR. Trẻ bị SDD do ăn quá nhiều bột: no giả tạo. Trẻ được nuôi dưỡng với chế độ khối lượng thức ăn tuy nhiều nhưng mất cân bằng về các chất. Thừa chất glucid nhưng lại thiếu lipid và đặc biệt là thiếu protid Trẻ suy dinh dưỡng thể phù là trẻ bị suy dinh dưỡng với trọng lượng cơ thể chỉ chiếm 60 - 80% trẻ phát triển bình thường. Tuy nhiên các biểu hiện của bé là mặt phù nề, tròn trịa, có thể bị phù chân mắt đến cuối mắt cho đến phù toàn thân. Da của trẻ xuất hiện các đám lấm tấm sắc tố màu nâu, bị bong vảy và lộ ra vết loét trắng ửng đỏ. CN/ CC ≥ 90% chuẩn: chế độ ăn dư thừa gây béo phì. CN/ CC < 80% chuẩn: chế độ ăn thiếu gây suy dinh. dưỡng. f5. Phân loại SDD. Để phân loại suy dinh dưỡng dựa vào tỷ lệ CN/ CC ta có: CN/ CC đạt 71 - 80% chuẩn: suy dinh dưỡng nhẹ. CN/ CC đạt 61 - 80% chuẩn: suy dinh dưỡng kunci melodi gitar surat cinta untuk starla. Suy dinh dưỡng là tình trạng bao gồm thừa dinh dưỡng và thiếu dinh dưỡng. Những người thiếu dinh dưỡng có thể bị sụt cân, mệt mỏi, thay đổi tâm trạng hoặc bị thiếu hụt vitamin và khoáng chất. Mặt khác, thừa dinh dưỡng có thể dẫn đến thừa cân, béo phì và thiếu hụt vi chất dinh dưỡng. Cả hai loại đều có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng nếu không được kiểm soát kịp thời. Suy dinh dưỡng là một tình trạng nghiêm trọng xảy ra khi chế độ ăn uống của bạn không có đủ chất dinh dưỡng, nói cách khác, đó là sự thiếu hụt hoặc tiêu thụ quá nhiều chất dinh loại suy dinh dưỡng bao gồmThiếu dinh dưỡng Undernutrition Loại suy dinh dưỡng này là kết quả của việc cơ thể không nhận đủ protein, calo hoặc vi chất dinh dưỡng thiết yếu. Nó dẫn đến các tình trạng cân nặng so với chiều cao thấp gầy còm, chiều cao thấp theo tuổi thấp còi và nhẹ cân so với tuổi nhẹ cân.Thừa dinh dưỡng Overnutrition Tiêu thụ quá nhiều một số chất dinh dưỡng, chẳng hạn như protein, calo hoặc chất béo cũng có thể dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng. Điều này thường dẫn đến thừa cân hoặc béo chung, những người thiếu dinh dưỡng thường có xu hướng thiếu vitamin và khoáng chất, đặc biệt là sắt, kẽm, vitamin A và i ốt. Tuy nhiên, tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng cũng có thể xảy ra khi bạn bị suy dinh với tình trạng thừa cân hoặc béo phì có thể xảy ra do cơ thể tiêu thụ quá nhiều calo nhưng không nhận đủ vitamin và khoáng chất cùng một lúc. Thực phẩm cũng là một yếu tố góp phần gây ra tình trạng thừa dinh dưỡng, chẳng hạn như các thực phẩm chiên rán và nhiều đường, có xu hướng chứa nhiều calo và chất béo nhưng lại ít các chất dinh dưỡng cần thiết khác. Suy dinh dưỡng là một tình trạng nghiêm trọng xảy ra khi chế độ ăn uống của bạn không có đủ chất dinh dưỡng 2. Dấu hiệu và triệu chứng của suy dinh dưỡng Các dấu hiệu và triệu chứng của suy dinh dưỡng sẽ tùy thuộc vào từng loại suy dinh dưỡng khác nhau. Việc phát hiện ra những ảnh hưởng của suy dinh dưỡng có thể giúp bạn sớm xác định được phương pháp điều trị phù hợp dành cho dinh dưỡngThường là kết quả của việc cơ thể không nhận đủ chất dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của bạn. Điều này có thể gây ra các vấn đề sauGiảm cânGiảm mỡ và khối lượng cơMá hóp và mắt trũngBụng sưng toTóc và da khôChậm lành vết thươngMệt mỏiKhó tập trungDễ cáu gắtTrầm cảm và lo âuNhững người thiếu dinh dưỡng có thể có một hoặc một số triệu chứng dinh dưỡng thể phù Kwashiorkor là tình trạng cơ thể thiếu protein trầm trọng, dẫn đến tích nước và làm phình bụng. Trong khi đó, suy dinh dưỡng thể teo đét marasmus xảy ra do cơ thể thiếu hụt calo nghiêm trọng, dẫn đến gầy, kèm theo sự mất đi một lượng đáng kể chất béo và cơ ra, thiếu dinh dưỡng cũng có thể dẫn đến thiếu vi chất dinh dưỡng. Một số sự thiếu hụt phổ biến nhất và các triệu chứng đi kèm của chúng thường bao gồmVitamin A Gây khô mắt, quáng gà và làm tăng nguy cơ nhiễm trùngSắt Làm suy giảm chức năng não, gây ra các vấn đề về điều hòa thân nhiệt và các vấn đề về dạ dàyKẽm Dẫn đến chán ăn, còi cọc, chậm lành vết thương, rụng tóc, hoặc tiêu chảyIốt Khiến tuyến giáp goiters bị mở rộng, giảm sản xuất hormone tuyến giáp, gây ra các vấn đề về tăng trưởng và phát triểnThực chất, thiếu dinh dưỡng có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng về thể chất và sức khỏe của bạn, thậm chí nó còn làm tăng nguy cơ tử vong nếu không được kiểm soát kịp thời. Người ta đã ước tính rằng, tình trạng thấp còi, gầy còm, thiếu kẽm và vitamin A đã gây ra khoảng 45% tổng số ca tử vong ở trẻ em trong năm 2011 Thiếu dinh dưỡng có thể khiến bạn rơi vào trạng thái mệt mỏi, trầm cảm, lo âu Thừa dinh dưỡng bội dinh dưỡngCác dấu hiệu chính của thừa dinh dưỡng là tình trạng thừa cân và béo phì, nhưng nó cũng có thể dẫn đến sự thiếu hụt dinh cứu đã cho thấy, những người thừa cân hoặc béo phì có nhiều khả năng hấp thụ không đủ chất dinh dưỡng, đồng thời lượng vitamin và khoáng chất trong máu của họ cũng thấp hơn so với những người có cân nặng bình nghiên cứu khác được thực hiện ở những người có độ tuổi thanh thiếu niên cũng đã cho thấy, nồng độ vitamin A và E trong máu ở những người béo phì thấp hơn từ 2–10% so với những người tham gia có cân nặng bình này là do thừa cân và béo phì có thể là kết quả của việc tiêu thụ quá nhiều thức ăn nhanh và thực phẩm chế biến sẵn. Bởi chúng có chứa hàm lượng calo cao và nhiều chất béo nhưng lại rất ít chất dinh dưỡng thiết yếu khác cho cơ trong một cuộc nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng, những người ăn thức ăn nhanh thường hấp thụ rất ít lượng vitamin A và C, trong khi đó lại tiêu thụ đáng kể một lượng lớn calo, chất béo và natri hơn so với những người kiêng các loại thực phẩm này. 3. Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng Các triệu chứng của suy dinh dưỡng sẽ được đánh giá thông qua các bài kiểm tra sức khỏe tại bệnh viện hoặc phòng công cụ chính được sử dụng để xác định suy dinh dưỡng thường bao gồm biểu đồ giảm cân và chỉ số khối cơ thể BMI, xét nghiệm máu để biết tình trạng vi chất dinh dưỡng và khám sức khỏe tổng bạn có tiền sử giảm cân và có các triệu chứng khác liên quan đến tình trạng thiếu dinh dưỡng, bác sĩ có thể yêu cầu bạn thực hiện các xét nghiệm bổ sung để xác định tình trạng thiếu vi chất dinh khác, việc xác định sự thiếu hụt chất dinh dưỡng do thừa dinh dưỡng có thể gặp nhiều khó khăn hơn. Nếu bạn bị thừa cân hoặc béo phì, và chủ yếu ăn các thực phẩm chế biến sẵn và thức ăn nhanh, cơ thể bạn có thể sẽ không nhận đủ vitamin hoặc khoáng chất cần thiết. Để tìm hiểu xem bạn có đang bị thiếu hụt chất dinh dưỡng hay không, hãy trao đổi với bác sĩ về thói quen ăn uống hàng ngày của bạn. Các triệu chứng của suy dinh dưỡng sẽ được đánh giá thông qua các bài kiểm tra sức khỏe tại bệnh viện hoặc phòng khám 4. Suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào? Suy dinh dưỡng có thể dẫn đến sự phát triển của bệnh tật và các tình trạng sức khỏe mãn tính hưởng lâu dài của tình trạng thiếu dinh dưỡng thường bao gồm nguy cơ cao mắc béo phì, bệnh tim và bệnh tiểu đường. Trong một cuộc nghiên cứu ở một số trẻ vị thành niên đã cho thấy, những bé trai bị còi cọc do suy dinh dưỡng sớm trong cuộc đời sẽ tăng thêm 5% khối lượng chất béo trong vòng 3 năm so với các bạn không bị thấp còi. Ngoài ra, có khoảng 21% thanh thiếu niên thấp còi có tình trạng huyết áp cao hơn so với những thanh thiếu niên khỏe mạnh nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng, tình trạng thiếu dinh dưỡng ở thời thơ ấu có thể gây ra những thay đổi trong quá trình trao đổi chất, dẫn đến nguy cơ cao mắc các bệnh mãn tính sau cạnh đó, trẻ em thừa cân hoặc béo phì cũng có nguy cơ mắc bệnh tim và bệnh tiểu đường loại 2 cao hơn so với những trẻ khác. Cụ thể, qua một cuộc nghiên cứu gần đây cho thấy, những trẻ em bị béo phì có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 cao hơn gấp 4 lần so với những trẻ có chỉ số BMI bình thườngDo ảnh hưởng lâu dài của suy dinh dưỡng có thể làm tăng nguy cơ mắc một số bệnh mãn tính, vì vậy việc ngăn ngừa và điều trị suy dinh dưỡng sớm có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc các nguy cơ này. 5. Nguyên nhân nào dẫn đến suy dinh dưỡng? Suy dinh dưỡng là một vấn đề mang tính toàn cầu, có thể xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm điều kiện môi trường, kinh tế và y chức Y tế Thế giới WHO đã ước tính rằng có hơn 460 triệu người lớn và 150 triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng, trong khi đó có hơn hai tỷ người lớn và trẻ em bị thừa cân hoặc béo nguyên nhân phổ biến nhất của suy dinh dưỡng thường bao gồmTình trạng mất an ninh lương thực, hoặc thiếu khả năng tiếp cận với nguồn thực phẩm đầy đủ và giá cả phải chăng tình trạng mất an ninh lương thực của một quốc gia có thể khiến người dân lâm vào tình trạng thiếu lương thực, dẫn đến nạn đói và làm tăng nguy cơ bị suy dinh dưỡng trầm vấn đề về tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng một số tình trạng gây kém hấp thụ, chẳng hạn như bệnh Crohn, bệnh celiac và sự phát triển quá mức của vi khuẩn trong ruột, có thể gây ra suy dinh dưỡngUống quá nhiều rượu Việc sử dụng nhiều rượu có thể khiến cho cơ thể không hấp thụ đủ được lượng protein, calo và vi chất dinh dưỡng cần loạn sức khỏe tâm thần Trầm cảm và các tình trạng sức khỏe tâm thần khác có thể làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng. Trong một cuộc nghiên cứu đã cho thấy, những người bị trầm cảm có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn khoảng 4% so với những người khỏe có khả năng lấy và chuẩn bị thực phẩm các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự gầy yếu, kém vận động và thiếu đi sức mạnh cơ bắp là những yếu tố nguy cơ dẫn đến suy dinh dưỡng. Những vấn đề này cũng góp phần làm giảm khả năng chuẩn bị thức ăn của một người. Việc sử dụng nhiều rượu có thể khiến cho cơ thể không hấp thụ đủ được lượng protein, calo và vi chất dinh dưỡng cần thiết 6. Những người có nguy cơ rủi ro cao bị suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng có thể ảnh hưởng đến mọi người ở tất cả các nơi trên thế giới, nhưng một số đối tượng sau đây sẽ có nguy cơ cao hơn, bao gồmNhững người sống ở các nước đang phát triển hoặc các khu vực có khả năng tiếp cận thực phẩm bị hạn chế tình trạng thiếu dinh dưỡng và thiếu vi chất dinh dưỡng đặc biệt phổ biến ở Châu Phi cận Sahara và Nam người có nhu cầu chất dinh dưỡng tăng lên, đặc biệt là trẻ em và phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú Ở một số nước đang phát triển, có khoảng 24-31% bà mẹ mang thai và cho con bú bị suy dinh người sống trong cảnh nghèo đói hoặc có thu nhập thấp Tình trạng kinh tế xã hội thấp có liên quan mật thiết đến suy dinh lớn tuổi, đặc biệt là những người sống một mình hoặc bị khuyết tật Nghiên cứu đã cho thấy có tới 22% người lớn tuổi bị suy dinh dưỡng và hơn 45% có nguy cơ bị suy dinh người có các vấn đề ảnh hưởng đến sự hấp thụ chất dinh dưỡng Những người bị bệnh Crohn hoặc viêm loét đại tràng có thể bị suy dinh dưỡng cao gấp bốn lần so với những người không có các tình trạng này. 7. Các biện pháp phòng ngừa và điều trị suy dinh dưỡng Để phòng ngừa và điều trị hiệu quả suy dinh dưỡng, chúng ta cần chú trọng đến việc giải quyết các nguyên nhân cơ bản dẫn đến vấn đề cứu đã cho thấy, các cách hiệu quả nhất để ngăn ngừa suy dinh dưỡng sẽ bao gồm cung cấp các viên sắt, kẽm, i-ốt, thực phẩm bổ sung, đồng thời giáo dục dinh dưỡng cho những người có nguy cơ bị suy dinh ra, trẻ em và người lớn có nguy cơ bị suy dinh dưỡng quá mức nên lựa chọn các loại thực phẩm lành mạnh, kết hợp thực hiện thường xuyên các hoạt động thể chất để ngăn ngừa đáng kể tình trạng thừa cân và béo cạnh đó, bạn cũng có thể ngăn ngừa nguy cơ suy dinh dưỡng bằng cách ăn một chế độ ăn uống đầy đủ với nhiều loại thực phẩm khác nhau, bao gồm đủ carbs, protein, chất béo, vitamin, khoáng chất và khác, việc điều trị suy dinh dưỡng thường bao gồm các phương pháp tiếp cận cá nhân hóa hơn. Nếu bạn nghi ngờ rằng bạn hoặc người thân đang bị suy dinh dưỡng, hãy trao đổi vấn đề này với bác sĩ càng sớm càng chuyên gia chăm sóc sức khỏe có thể giúp bạn đánh giá các dấu hiệu và triệu chứng của tình trạng thiếu dinh dưỡng, từ đó xác định được các biện pháp can thiệp phù hợp dành cho bạn, chẳng hạn như thay đổi chế độ dinh dưỡng bao gồm các chất bổ nay, Vinmec là một trong số ít các bệnh viện có đầy đủ các chuyên khoa về Nhi, có thể khám đa khoa kết hợp cùng bác sĩ chuyên khoa về dinh dưỡng giúp xây dựng thực đơn riêng cho bé, khám thần kinh, các vấn đề về tinh thần, phản xạ. Đặc biệt, Vinmec có thế mạnh về khám vận động với sự phối hợp của trung tâm điều trị phục hồi cho trẻ tự kỷ - bại có nhu cầu khám bệnh với các bác sĩ Nhi khoa giàu kinh nghiệm tại Vinmec, Khách hàng vui lòng đặt lịch trên website để được phục vụ. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Nguồn tham khảo XEM THÊM Trẻ đến tuổi đi học vẫn thiếu cân, phải làm thế nào? Lo lắng vì trẻ 3 tuổi bị táo bón kéo dài Trẻ 8 tháng nặng 7kg có phải suy dinh dưỡng không? Dịch vụ từ Vinmec Suy dinh dưỡng thể phù là một trong ba dạng suy dinh dưỡng khó phát hiện ra khi trẻ mắc phải, do bệnh bên ngoài trẻ trông vẫn mập mạp, khỏe mạnh. - Suy dinh dưỡng thể phù là một trong ba dạng suy dinh dưỡng khó phát hiện ra khi trẻ mắc phải, do bệnh bên ngoài trẻ trông vẫn mập mạp, khỏe mạnh. Vì thế cần tìm hiểu rõ nguyên nhân, biểu hiện và cách phòng tránh bệnh suy dinh dưỡng thể phù để giúp bé nhà bạn có thể phát triển tốt nhất cả về thể chất lẫn tinh thần. Biểu hiện của suy dinh dưỡng thể phù Khi đã mắc bệnh suy dinh dưỡng thể phù, mặt bệnh nhân sẽ tròn trịa, nhưng chân tay lại khẳng khiu, không mập mạp, cơ thể yếu, sắc tố da rối loạn, gan to, thoái hóa mỡ... Biểu hiện đầu tiên là phù mặt, mí mắt,chân tay, sau đó lan ra đến toàn thân, tràn dịch màng bụng, màng tinh hoàn. Tùy vào mức độ mà các bộ phận mắt, xương, gan, tim, ruột... đều có thể bị ảnh hưởng. Ban đầu, chưa có biểu hiện gì nghiêm trọng nhưng bệnh này điều trị khó và tỉ lệ tử vong là rất cao. Nguyên nhân gây bệnh Có thể do hoàn cảnh gia đình không có điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ, cho bé cai sữa sớm, sợ ngực bị chảy xệ khi cho con bú nên dùng sữa công thức, nước cháo pha sữa, bột dinh dưỡng, hay kiêng quá mức khi bé mắc bệnh, kinh tế yếu nên không có điều kiện cung cấp đủ các chất cho con trong bữa ăn hàng ngày. Có thể do bé mắc phải chứng bệnh di truyền, nhiễm khuẩn sơ sinh, và chế độ ăn uống không hợp lý Bé thường không được ăn đủ chất đạm nhưng vẫn có đủ năng lượng từ các chất bột, chất béo, sữa không thích hợp với thể trạng của trẻ. Cách phòng suy dinh dưỡng thể phù như thế nào? Điều đầu tiên để phòng tránh bệnh suy dinh dưỡng thể phù chính là chăm sóc trẻ ngay từ trong bụng mẹ. Khi người mẹ mang bầu cần ăn uống đủ các chất hơn bình thường. Theo dõi cân nặng của cả mẹ và bé theo từng quý, nên khám thai định kỳ ít nhất 3 lần. Sau khi bé chào đời cần cho bé bú sữa mẹ ngay, nuôi con bằng sữa mẹ là cách phòng ngừa tất cả các bệnh tốt nhất cho trẻ. Trẻ cần được cho bú mẹ đến khi được 2 tuổi. Cần cho ăn dặm khi sau khi được 6 tháng tuổi. Lưu ý không nên cho trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi dùng sữa bột nguyên kem, vì sữa này có nhiều protein nếu ăn nhiều sẽ gây tổn thương niêm mạc ruột. Thường xuyên theo dõi, chỉ cần có biểu hiện biếng ăn, rối loạn tiêu hóa thì đi khám ngay và điều trị theo các quy trình của bác sĩ. Bước vào thời kỳ ăn dặm cần có đủ 4 nhóm thức ăn Tinh bột, chất béo, chất đạm và rau quả tươi. Nếu mẹ không đủ sữa cho bé bú thì cần uống thêm sữa bò, sữa đậu nành và không được dùng nước cháo không cho trẻ ăn hàng ngày. Thường xuyên theo dõi cân nặng của trẻ bằng cách mỗi tháng cân 1 lần. Nếu trẻ từ 2-5 tuổi thì 2-3 tháng cân 1 lần. Để ý những dấu hiệu trên cơ thể bé, đặc biệt là khi bé tăng cân không bình thường. Đưa bé đi khám sức khỏe định kỳ, tham khảo ý kiến bác sĩ để có thể cân đối lại chế độ ăn hợp lý cho trẻ. Trên đây là kiến thức cho các ông bố bà mẹ tìm hiểu kỹ hơn những nguyên nhân, biểu hiện và cách phòng tránh suy dinh dưỡng thể phù. Bệnh rất khó phát hiện nên cần quan tâm chăm sóc trẻ kỹ càng và đặc biệt chú ý đến khẩu phần ăn của trẻ. Có như thế trẻ mới phát triển được toàn diện cả thể chất lẫn trí tuệ, tự tin hòa đồng với các bạn cùng trang lứa. Thanh Thươngtổng hợp >PHÙ, NGUYÊN NHÂN, CƠ CHẾ, CÁCH KHÁM PHÙ Phù là gì? Phù được định nghĩa là hiện tượng ứ nước ở khoang gian bào. Dịch phù chủ yếu tích ở tổ chức liên kết dưới da, nơi có tổ chức lỏng lẻo và áp lực tổ chức thấp. Nếu phù nặng thì dịch phù có cả ở các khoang rỗng của cơ thể. Như khoang phúc mạc tràn dịch màng bụng, khoang màng phổi tràn dịch màng phổi, khoang màng tinh hoàn tràn dịch màng tinh thoàn. Ngoài ra còn có phù phổi cấp dịch phù tràn vào các phế nang, phù não… Nếu căn cứ vào tính chất phù người ta chia ra hai loại phù là phù mềm và phù cứng. Phù mềm là loại phù khi dùng ngón tay ấn vào da để lại một vết lõm lâu phẳng sau khi ngừng ấn. Xung quanh vết lõm gờ lên làm vết lõm giống như chiếc nghiên mài mực nho, nên gọi là dấu hiệu lõm lọ mực. Phù mềm là do nước bị ứ lại ở dạng tự do trong khoang gian bào. Đây là loại phù hay gặp trong lâm sàng. Phù cứng là loại phù khi dùng ngón tay ấn vào da, không để lại vết lõm sau khi ngừng ấn. Phù cứng là do lượng nước ứ lại ở khoang gian bào không ở dạng tự do. Mà ở dạng liên kết với các thành phần của mô như liên kết với acid hyaluronic của tổ chức liên kết. Phù cứng gặp trong một số bệnh lý như phù do dị ứng, phù do nhược năng tuyến giáp phù niêm. Trong bài này chúng tôi chỉ đề cập tới phù mềm là loại phù hay gặp trong lâm sàng. + Nhìn sẽ thấy mi mắt mọng, mất các nếp gấp mi. Da vùng bị phù căng bóng, không còn nếp nhăn. Các chỗ bình thường có các hõm như hõm sau và trước mắt cá chân sẽ đầy và mất đi các hõm này. Bệnh nhân có cảm giác nặng nề ở nơi phù. + Khám ngoài da. Dùng ngón tay ấn vào các vùng da trên nền xương như. mặt trước trong xương chày, mắt cá chân, vùng cột sống thắt lưng, vùng xương cùng, vùng trán… Sau khi nhấc ngón tay ra sẽ để lại một vết lõm có bờ hơi gờ cao do nước bị dồn ra xung quanh tạo nên. Vết lõm lâu mới đầy trở lại. + Tốt nhất là theo dõi cân nặng của bệnh nhân. Theo dõi cân nặng vừa biết được lượng nước bị ứ lại vừa đánh giá được tiến triển của phù. Nếu trong 1 vài ngày thấy bệnh nhân tăng 1-2kg cân cùng thời điểm trong ngày, lúc đói kèm thêm các triệu chứng nghi ngờ phù thì cần đưa bệnh nhân đi khám để xác định có phù hay không và tìm nguyên nhân gây phù để điều trị. + Nếu phù toàn thân nặng cần khám xem có tràn dịch màng phổi không. Phát hiện bằng dấu hiệu 3 giảm ở đáy phổi, chụp X-quang phổi để phát hiện. Khám xác định có tràn dịch màng bụng, tràn dịch màng tinh hoàn không. Nguyên nhân gây phù Phù toàn thân gặp trong các bệnh. bệnh thận viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn, hội chứng thận hư. suy thận cấp, suy thận mạn. bệnh tê phù thể ướt do thiếu vitamin B1. suy dinh dưỡng. nhiễm độc thai nghén. Phù khu trú phù ở ngực và hai tay phù áo khoác gặp trong hội chứng trung thất. Do tĩnh mạch chủ trên bị chèn ép. Phù hai chi dưới do suy tim phải hay suy tim toàn bộ. phù do xơ gan. phù trong 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén do tĩnh mạch chủ dưới bị thai chèn ép. Phù một chi thường phù một chi dưới do viêm tắc tĩnh mạch sâu, viêm mạch bạch huyết. Đặc điểm phù do các nguyên nhân khác nhau Căn cứ vào đặc điểm khác nhau của triệu chứng phù, người ta có thể sơ bộ dự đoán được nguyên nhân gây ra phù. + Nguyên nhân gây phù do các bệnh thận thì có đặc điểm – Ban đầu xuất hiện ở hai mi mắt. Sáng ngủ dậy thấy hai mi mắt mọng. Sau một vài ngày phù xuất hiện toàn thân. Dùng ngón tay ấn vùng da trước trong xương chày, mắt cá chân thấy để lại vết lõm lâu đầy. Da vùng phù căng bóng, mất các nếp nhăn. Các chỗ lõm tự nhiên trở nên đầy như lõm mặt sau, mặt trước mắt cá chân. Những vùng ở thấp thường phù nhiều như hai chân, vùng thắt lưng nếu bệnh nhân nằm ngửa nhiều. Nếu phù nặng hội chứng thận hư bệnh nhân có thể tăng 5-10kg so với khi chưa phù. Có thể có tràn dịch màng phổi. tràn dịch màng bụng bụng to bè, rốn đầy, gõ đục vùng thấp, dấu hiệu sóng vỗ dương tính. tràn dịch màng tinh hoàn bìu to, da bìu căng mọng, sờ thấy tinh hoàn bình thường bên trong. – Phù tăng về buổi sáng sau khi ngủ dậy, giảm về chiều. – Ăn mặn thì phù tăng nhanh, ăn nhạt thì phù giảm. – Bệnh nhân đi tiểu ít. – Có thể đau âm ỉ hai hố thắt lưng. – Xét nghiệm nước tiểu có protein niệu, hồng cầu niệu, trụ hình niệu. + Nguyên nhân gây phù do suy tim có đặc điểm. – Phù hai chi dưới. – Phù tăng về chiều và giảm về sáng sau ngủ dậy, được nghỉ ngơi thì phù giảm. – Bệnh nhân mệt, khó thở tăng khi vận động, giảm khi được nghỉ ngơi. Tĩnh mạch cổ nổi, gan to, phản hồi gan-tĩnh mạch cổ dương tính. – Khám tim phát hiện các bệnh lý thực thể của tim như bệnh van tim, bệnh cơ tim, bệnh mạch vành. + Nguyên nhân gây phù do suy dinh dưỡng có đặc điểm. Bệnh nhân thiếu ăn lâu ngày, gầy, cơ teo, phù toàn thân nhưng nặng hơn ở hai chi dưới. Xét nghiệm protein máu và albumin máu giảm nặng. + Tê phù thể ướt Nguyên nhân gây phù do thiếu vitamin B1. Bệnh nhân ăn gạo ẩm mốc, gạo dự trữ lâu ngày, phù hai chi dưới. Tê bì và mất cảm giác hai chi dưới. Giảm hoặc mất phản xạ gân xương chi dưới do tổn thương thần kinh ngoại vi. Có thể có tim to, suy tim, nhịp tim nhanh. + Nguyên nhân gây phù do nhiễm độc thai nghén. Thường xuất hiện ở người có thai 3 tháng cuối, con so, phù toàn thân kèm tăng huyết áp, protein niệu dương tính, acid uric máu tăng. Cần phát hiện sớm và điều trị tích cực đề phòng sản giật. Cách khám một người bệnh phù. Sự ứ nước trong tổ chức dưới da thường làm cho. Những bệnh có cảm giác nặng nề. Những vùng bị sưng phù to, căng mọng, làm che lấp các chỗ lồi lõm bình thường mắt cá, nếp răn, đầu xương. Màu da vùng đó nhợt nhạt. Trong trường hợp kín đáo. Sự ứ nước có thể chưa nhiều để biểu hiện thành những triệu chứng lâm sàng rõ rệt. Nhưng thường đủ để làm thay đổi cân nặng của người bệnh một cách nhanh chóng. Cho nên những trường hợp kín đáo, cần phải cân người bệnh hằng ngày. tăng lên 1 -2,5kg trong vài ngày chỉ nó để giải thích được bằng hiện tượng phù. Sau khi đã xác định được phù, muốn tìm nguyên nhân gây phù cần phải Nhận định kỹ tính chất phù. Phát hiện các triệu chứng kèm theo. Nhận định tính chất phù. Mức độ nhiều hay ít và tiến triển hình nhanh hay chậm Tốt nhất nên theo dõi cân nặng để được chính xác và cụ thể. Vị trí Phù toàn thân hay khu trú một vùng và xuất hiện đầu tiên ở đâu? Ấn lõm hay không? Sự liên quan với thời gian buổi sáng ngủ dậy thì không thấy phù, mà chỉ xuất hiện về chiều, phù do suy tim ở thời kỳ đầu hoặc với tư thế người bệnh phù xuất hiện khi đứng lâu phù tim trong thời kỳ đầu, phù tĩnh mạch. Tác dụng của chế độ ăn nhạt thường khá rõ rệt trong phù do suy tim, do xơ gan và nhất là trong phù do viêm cầu thận cấp. Phát hiện các triệu chứng kèm theo phù Phản ứng mức độ nước Tình trạng các màng phổi màng bụng Thường có tràn dịch trong các trường hợp phù to, nước dịch có thể trong hoặc hơi vàng chanh nhưng bao giờ cũng có ít protein và Rivalta - vì là dịch thấm. Số lượng nước tiểu thải tiết trong 24 giờ nói chung tất cả các trường hợp phù trừ phù do viêm tĩnh mạch và phù do bệnh bạch mạch đều làm cho người bệnh đái ít. Mức độ giảm số lượng nước tiểu thường tỷ lệ với tình trạng phù, phù càng nhiều, người bệnh càng đái ít. Phù trên hệ tuần hoàn có chỉ điểm Tuần hoàn bàng hệ Ở ngực chỉ điểm cho một cản trở cơ giới ở hệ tỉnh mạch chủ trên, thường có trong hội chứng trung thất; ở hạ sườn phải và thượng vị chỉ điểm cho một cản trở cơ giới ở hệ thống cửa chủ, thường có trong phù xơ gan. ở bẹn và hạ vị chỉ điểm cho một cản trở cơ giới ở tĩnh mạch chủ dưới, thường có trong các trường hợp tắc hoặc chèn ép các tĩnh mạch chi dưới. Xanh tím Ở môi, ở mặt, chỉ điểm cho một cản trở cơ giới ở tĩnh mạch chủ trên hoặc tuần hoàn hoàn lớn, hoặc ở các chi tương ứng với tĩnh mạch có bệnh. Gan to mềm, tĩnh mạch cổ nổi, phản hồi gan tĩnh mạch cổ + Chỉ điểm cho phù do suy tim phải. Khó thở Nhiều hoặc ít, thường có trong phù do suy tim. Chỉ điểm cho một viêm nhiễm địa phương Tình trạng nóng, đỏ, đau ở vùng đó. Sưng các hạch tương ứng với vùng đó. Sốt nhiều hoặc ít. Chẩn đoán phù Chẩn đoán xác định Thường không khó khăn trong trường hợp rõ ràng và cả trong các trường hợp kín đáo căn cứ vào các biểu hiện hoặc các biện pháp đãn nêu ở trên. Những vấn đề chủ yếu và quan trọng trong chẩn đoán phù là tìm ra nguyên nhân. Nguyên nhân gây ra phù có thể do Ứ trệ tuần hoàn Suy tim. Chèn ép tĩnh mạch hoặc tắc tĩnh mạch. Hạ tỷ lệ protein ở huyết tương Làm thay đổi áp lực thẩm thấu, nước dễ thoát ra ngoài huyết quản, như phù trongThận nhiễm mỡ. Thiếu dinh dưỡng. Xơ gan. Ứ NaCl Ba yếu tố nói trên thường có thể kết hợp với nhau và đều là những yếu tố tiên phát. Nhưng dần dần, sau một thời gian, thường có thêm một yếu tố hậu phát, đó là Cường adosteron hậu phát Ví dụ trong suy tim, thận nhiễm mỡ, xơ gan. Yếu tố này thường củng cố thêm hiện tượng phù, làm cho việc điều trị thêm khó khăn. Ngoài 4 yếu tố thường chi phối một số lớn các trường hợp phù nói trên, còn có trường hợp nguyên nhân gây phù do Tổn thương các thành bạch mạch hoặc tĩnh mạch Đấy là các trường hợp phù do Viêm tĩnh mạch. Viêm hạch mạch. Dị ứng. Các biểu hiện phù trong nguyên nhân nói trên thường thể hiện dưới hai hình thái lâm sàng giúp cho ta hướng chẩn đoán nguyên nhân Phù toàn thân và Phù khu trú từng vùng. Chẩn đoán nguyên nhân gây phù 1. Nguyên nhân gây phù toàn thân Nghĩa là phù cả mặt, thân, chân tay và thường kèm thêm cả tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng bụng. Nguyên nhân gây phù toàn thân thông thường nhất là các bệnh thận. Trong đó chủ yếu là Thận nhiễm mỡ. Viêm cầu thận cấp, bán cấp, hoặc kính. Tính chất chung của một phù thận là Bao giờ cũng xuất hiện đầu tiên của mi mắt, ở mặt, rồi mới đến các nơi khác. Không có liên quan với thời gian trong ngày hoặc với tư thế người bệnh dù sao nếu người bệnh phải nằm lâu, phù thường nhất ở vùng lưng, mặt sau đùi, tuy các vùng khác vẫn phù. Phù trắng, mềm, ấn lõm. Bao giờ ở nước tiểu cũng có protein; mức độ nhiều ít có thể khác nhau tùy theo loại bệnh thận. Ngoài những tính chất chung đó của phù thận, bệnh nhân nhiễm mỡ và viêm cầu thận có một số yếu tố khác nhau về lâm sàng và cận lâm sàng, mà chúng tôi trình bày trong bảng dưới đây để căn cứ vào đó, chúng ta có thễ phát hiện được. Ngoài nguyên nhân gây phù thông thường nhất nói trên, phù toàn thân còn có thể gặp trong Nguyên nhân gây phù do suy dinh dưỡng Chủ yếu phù chi dưới, nhưng cũng có khi phù cả mặt, thân và tay. Cũng không có liên quan đến thời gian trong ngày hoặc với tư thế người bệnh. Cũng mềm và ấn lõm. Nhưng không bao giờ có protein ở nước tiểu, xác định bằng protein máu giảm. Phát hiện được bệnh tiên phát gây suy dinh dưỡng, thông thường nhất là các bệnh đường ruột mạn tính, các nhiễm khuẩn mạn tính lao hoặc các bệnh ác tính ung thư, nhất là ung thư ống tiêu hoá. Nguyên nhân gây phù do nội tiết Được đề cập đến những năm gần đây Phù có thể ở chi dưới và cả ở mặt, nhưng rất kín đáo Người bệnh cảm thấy mặt hơi nặng và ấn hơi lõm, phải theo dõi cẩn thận mới biết chắc là phù. Thường xảy ra ở phụ nữ và có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt. 2. Nguyên nhân gây phù khu trú Phù ngực Phù “áo khoác”, triệu chứng cổ điển của triệu chứng trung thất. Phù hai chi dưới Nhiều bệnh có thể gây ra phù hai chi dưới. Nguyên nhân gây phù do suy tim phải Lúc đầu ít và kín đáo, chỉ có ở mắt cá chân; và chỉ xuất hiện về chiều, sau khi người bệnh đứnglâu, và mất đi lúc sáng sớm khi người bệnh ngủ dậy, về sau phù sẽ thường xuyên và rõ rệt. Chế độ nghĩ ngơi, chế độ ăn nhạt có thể làm bớt phù. Phù mềm, ấn lõm. Bao giờ cũng kèm theo gan to, mềm, tức, có tính chất gan đàn xếp, tĩnh mạch cổ nổi hoặc phản hồi gan tĩnh mạch cổ + và khó thở ít hoặc nhiều. Nếu suy tim phải kéo dài hoặc không hồi phục, có thể xuất hiện thêm cổ trướng thẩm thấu. Nguyên nhân gây phù do xơ gan Mức độ có thể nhiều họăc ít, ấn lõm. Ăn nhạt có thể bớt phù. Thường kèm theo cổn trướng thẩm thấu và tuần hoàn bàng hệ cửa – chủ bằng soi ổ bụng và sinh thiết gan, nếu nghi ngờ. Nguyên nhân gây phù do suy dinh dưỡng đã nói ở trên Phù do bệnh tê phù ướt bêribêri Chủ yếu ở bắp chân, làm bắp chân người bệnh căng, to. Có thể ấn lõm. Không có liên quan với thời gian, với tư thế người bệnh cũng như với chế độ ăn nhạt. Bao giờ cũng kèm theo rối loạn cảm giác chủ quan tê bí, kiến bò, chuột rút và mất phản xạ gân gối. Nguyên nhân gây phù do thai nghén Ở những sản phụ trong những tháng cuối của thời kỳ có thai. 3. Nguyên nhân gây phù một chi Thông thường nhất ở một chi dưới. Cần chú ý đến hai trường hợp Nguyên nhân gây phù một chi do viêm tắc tĩnh mạch phù tĩnh mạch Phù mềm, ấn không lõm, trắng nhưng rất đau đau tự phát lâu ngày làm người bệnh không dám cử động chân, đau càng tăng lên khi sờ nắn chi, nhất là đoạn chi gần chỗ viêm tắc. Nằm nghỉ và nhất là gác chân lên cao, sẽ làm giảm bớt kèm theo sốt và mạch nhanh, nhưng không tương xứng vì sốt ít. Nguyên nhân gây phù một chi do viêm mạch bạch huyết Lúc đầu cũng giống như phù trong phù tỉnh mạch. Mềm, ấn không lõm, trắng nhưng cũng rất đau nhưng không nổi rõ đường đi của mạch bạch huyết thành những đường đỏ, nóng và đau. Các hạch bạch huyết tương ứng với các mạch đó sưng to và đau. Về sau các tổn thương đã ổn định, các tổ chức dưới da và da trở nên rất dày và cứng đấy là” phù chân voi”, di chứng của viêm bạch mạch. Cần tìm nguyên nhân thông thường nhất ở nước ta là giun chỉ. Nguyên nhân gây phù một chi do dị ứng Thường xuất hiện đột ngột ở xung quanh mắt, mồm và thường mất đi rất nhanh. Nguyên nhân gây phù, phù hay gặp trong bệnh gì? Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Tiến sĩ, Bác sĩ Phan Nguyễn Thanh Bình - Trưởng khoa Dinh dưỡng - Tiết chế - Khoa Nhi - Sơ sinh, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park. Suy dinh dưỡng thể teo đét Marasmus là một trong những thể suy dinh dưỡng nặng ở trẻ em. Ở dạng suy dinh dưỡng này trẻ có cân nặng nhỏ hơn 60% hay giảm tới -4SD so với cân nặng bình thường của trẻ đồng tuổi. Trẻ bị gầy đét, trơ xương, da bọc xương, khuôn mặt như người già bởi không có lớp mỡ dưới da, bụng, mông và má. Biểu hiện ở trẻ bị suy dinh dưỡng thể teo đét khá rõ rệt. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ bị suy dinh dưỡng thể gầy teo đét. Trong đó có thể nhắc đến một số nguyên nhân chính như sauTrẻ không được nuôi bằng sữa mẹ, điều kiện nuôi thiếu thốn, phải bổ sung các chất khác thay vì sữa mẹ như nước cháo, bột loãng,... các chất, thức ăn ăn thay thế rất ít được bú mẹ nhưng từ tháng thứ 4 trở đi mẹ không bổ sung thêm cho trẻ bột, rau xanh, trái cây, chất béo và chất đạm bên ngoài. Hoặc có thể trẻ được bổ sung thêm chất ăn dặm khác nhưng bị thiếu chất béo cần thiết để cung cấp năng lượng quan trọng cho sự phát bị mắc các bệnh như sở, tiêu chảy,... không được điều trị dứt điểm, kết hợp với mẹ bắt trẻ kiêng ăn không đúng bị sốt kéo dài, tiêu hao năng lượng không được chăm sóc và bù đắp năng lượng thiếu hụt trong một thời gian dài. Trẻ bị sốt kéo dài là một trong số những nguyên nhân của suy dinh dưỡng. Các dấu hiệu lâm sàng cho thấy trẻ có nguy cơ, dấu hiệu của thể suy dinh dưỡng teo đét mà phụ huynh có thể nhận biết gồm cóTrẻ có triệu chứng của thiếu các loại vitamin A, B1, B12, D, K,... ở mức độ ban đầu nhẹ hơn thể dinh dưỡng thể teo đét không có triệu chứng gan to do thoái hóa mỡ, chức năng gan của trẻ ít bị ảnh ít bị đe dọa suy tim do mức độ thiếu đạm, thiếu máu, thiếu K+, thiếu B1 nhẹ hơn dấu hiệu của trẻ bị suy dinh dưỡng thể bị rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy có dấu hiệu mệt mỏi, thờ ơ với ngoại có thể thèm ăn hoặc chán ăn, có dấu hiệu ỉa phân sống, lỏng. 2. Hậu quả của suy dinh dưỡng thể teo đét Suy dinh dưỡng ở thể teo đét nói riêng và suy dinh dưỡng nói chung gây ra những hậu quả khó lường và nguy hiểm cho sự phát triển của trẻ. Trẻ bị suy dinh dưỡng sẽ có biểu hiện chậm phát triển trí tuệ, trí lực, gầy thấp so với độ tuổi, nhận thức kém hơn so với bạn bè cùng tuổi. Tình trạng sẽ ảnh hưởng đến trẻ khi trưởng thành và có thể hình thành một số bệnh mãn tính trong quá trình phát triển và khi trưởng đó, theo nghiên cứu, thống kê trẻ bị suy dinh dưỡng thường hay mắc các bệnh về tiêu chảy, viêm phổi, gây ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển trí tuệ, hành vi và khả năng học hành của trẻ cũng như khả năng lao động và sức khỏe ở tuổi trưởng thể suy dinh dưỡng có thể gây ra các tổn thương bệnh lý và các rối loạn chuyển hóa thường gặp nhưGan thường có nguy cơ bị thoái hóa, ở thể suy dinh dưỡng teo đét, tổn thương ở gan hoàn toàn có thể được điều trị phục hồi kịp thời và đúng quan tiêu hóa của trẻ bị suy dinh dưỡng có thể bị tổn thương các tế bào tuyến tụy, niêm mạc ruột bị teo gây ra các tình trạng bệnh lý về tiêu hóa trong quá trình trưởng thành ở thống cơ tim mạch có thẻ bị teo, cung lượng tim giảm, các trường hợp nặng còn có dấu hiệu đầu chi lạnh, tím, mạch nhỏ khó bắt, khả năng tử vong cao, có thể phục hồi nhưng di chứng để lại khá nguy và hệ thống thần kinh bị ảnh hưởng, các chỉ số phát triển trí tuệ kém, bất thường so với trẻ bình thống miễn dịch của trẻ suy dinh dưỡng giảm sút đáng kể, tình trạng này làm tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn ở trẻ suy dinh rối loạn chuyển hóa như chuyển hóa glucid, lipid, protein, nước và điện giải sẽ xảy ra ở trẻ bị suy dinh dưỡng trong quá trình phát triển. Trẻ có triệu chứng của thiếu các loại vitamin A, B1, B12, D, K,... là dấu hiệu của suy dinh dưỡng. 3. Biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng thể teo đét Để trẻ có sự phát triển toàn diện, không bị suy dinh dưỡng, phụ huynh cần biết cách phòng chống và chăm sóc trẻ bằng các biện pháp sauChăm sóc dinh dưỡng và dinh dưỡng cho mà mẹ có thai và cho con con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, cho trẻ bú kéo dài đến 18 - 24 tháng tuổi, ít nhất là 12 tháng hiện ăn bổ sung hợp lý, đủ năng lượng, cân đối chất dinh dưỡng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của bảo nhu cầu dinh dưỡng của trẻ em tăng lên theo tháng bảo bổ sung đầy đủ vitamin A cho trẻ và bà mẹ sau hiện nuôi dưỡng đúng cách khi trẻ bị sóc vệ sinh, phòng chống giun sán cho hành lý tưởng về cách nuôi con trẻ khoa học, đúng phòng chống và cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ, cha mẹ nên bổ sung các sản phẩm hỗ trợ có chứa lysine, các vi khoáng chất và vitamin thiết yếu như kẽm, crom, selen, vitamin nhóm B giúp đáp ứng đầy đủ nhu cầu về dưỡng chất cho con. Đồng thời, các vitamin thiết yếu này còn hỗ trợ tiêu hóa, tăng cường khả năng hấp thu dưỡng chất, giúp cải thiện tình trạng biếng ăn, giúp trẻ ăn ngon miệng. Cha mẹ có thể cũng có thể áp dụng việc bổ sung chất qua đường ăn uống và các thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ tự nhiên để bé dễ hấp thụ. Điều quan trọng nhất là việc cải thiện triệu chứng cho bé phải diễn ra trong thời gian dài. Việc kết hợp nhiều loại thực phẩm chức năng cùng lúc hoặc thay đổi liên tục nhiều loại trong thời gian ngắn có thể khiến hệ tiêu hóa của bé không kịp thích nghi và hoàn toàn không tốt. Vì vậy, cha mẹ phải thực sự kiên trì đồng hành cùng con và thường xuyên truy cập website để cập nhật những thông tin chăm sóc cho bé hữu ích nhé. XEM THÊM Sự phát triển của trẻ sơ sinh trong năm đầu tiên Trẻ bị bệnh tay chân miệng kiêng ăn gì? Hướng dẫn chăm sóc trẻ sau khi cắt Amidan Bài viết này được viết cho người đọc tại Hà Nội. Dịch vụ từ Vinmec Suy dinh dưỡng là gì? Suy dinh dưỡng là thuật ngữ để chỉ tình trạng thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết, thường gặp nhất là sự thiếu hụt protein, vitamin và các chất khoáng. Hậu quả của việc cơ thể không nhận đủ chất dinh dưỡng là sự suy giảm hoạt động của các cơ quan. Điều này đặc biệt cần lưu ý ở trẻ em, nhất là vào khoảng thời gian trẻ có nhu cầu dinh dưỡng cao từ 6-24 tháng tuổi. Suy dinh dưỡng ở trẻ em thường gây chậm tăng trưởng và hạn chế khả năng hoạt động thể lực. Ở mức độ nặng hơn suy dinh dưỡng còn ảnh hưởng đến sự phát triển não bộ, trí thông minh, khả năng giao tiếp và tăng khả năng mắc nhiều bệnh tật cho trẻ. Đánh giá một trẻ suy dinh dưỡng dựa vào các chỉ số Cân nặng theo tuổi Chiều cao theo tuổi Cân nặng theo chiều cao Suy dinh dưỡng ở người lớn thường phổ biến ở người cao tuổi, hoặc người trưởng thành có các nguyên nhân làm hạn chế cung cấp thức ăn cho cơ thể như bị bệnh mãn tính, mắc chứng biếng ăn. Người lớn bị suy dinh dưỡng sẽ gây ra các biến chứng hệ miễn dịch suy yếu, gia tăng khả năng mắc nhiều bệnh lý khác nhau, nhất là các bệnh lý lây nhiễm; hạn chế vận động, dễ té ngã; cần người chăm sóc. Nguyên nhân suy dinh dưỡng hầu hết xuất phát từ ngoại cảnh như hoàn cảnh sống, điều kiện kinh tế, thói quen ăn uống và sinh hoạt gây nên. Suy dinh dưỡng thường là hậu quả của các vấn đề sau Bữa ăn nghèo nàn về số lượng và chất lượng của các dưỡng chất Đây là nguyên nhân phổ biến gây suy dinh dưỡng ở các nước nghèo. Khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng kém do các bệnh lý đường tiêu hóa hoặc sau một đợt bệnh nặng, người bệnh cảm thấy không ngon miệng, không muốn ăn mặc dù được cung cấp thức ăn giàu chất dinh dưỡng. Ói mửa hay đi chảy kéo dài làm mất chất dinh dưỡng. Bệnh lý viêm loét đại tràng, bệnh Crohn làm giảm khả năng dung nạp chất dinh dưỡng từ thức ăn đưa vào. Bệnh nhân viêm loét dạ dày hoặc các bệnh lý gan mật thường đối mặt với chứng khó tiêu, làm người bệnh chán ăn, lâu dần cũng gây nên suy dinh dưỡng. Các bệnh lý nhiễm trùng tại đường tiêu hóa, hoặc việc phải sử dụng nhóm thuốc kháng sinh làm mất cân bằng giữa lượng vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại trong đường ruột cũng làm giảm khả năng hấp thu. Vấn đề sức khỏe tâm thần nhiều rối loạn tâm thần kinh ảnh hưởng đến thói quen ăn uống của người bệnh như trầm cảm, chứng chán ăn tâm thần, chứng ăn ói và các rối loạn ăn uống khác. Nguyên nhân này cũng có thể gặp phải ở trẻ em. Khi bi gia đình ép buộc ăn uống quá mức, trẻ dễ có tâm lý sợ hãi sinh ra những nỗi ám ảnh về thức ăn, dần dần sẽ dẫn tới bệnh chán ăn và gây ra suy dinh dưỡng. Trẻ sơ sinh không được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tiên, không bú đủ sữa mẹ và cho ăn dặm quá sớm. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng không được bú sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời có thể dẫn tới suy dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Quan niệm cho trẻ bú sữa công thức tốt hơn sữa mẹ là không đúng đắn. Những người mẹ suy dinh dưỡng hoặc không biết cách cho con bú cũng là những nguyên nhân gián tiếp gây suy dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh. Triệu chứng suy dinh dưỡng ở người lớn Bệnh suy dinh dưỡng ở người lớn thường có các biểu hiện trên lâm sàng như sau Mệt mỏi, uể oải, giảm vận động Teo dần lớp mỡ dưới da Lớp cơ lỏng lẻo, giảm khối lượng Vết thương lâu lành hơn bình thường Dễ mắc bệnh lý nhiễm trùng do sức đề kháng giảm Giảm hoạt động tình dục Khả năng sinh sản kém Ở những trường hợp suy dinh dưỡng nặng hơn, có thể gặp các dấu hiệu sau Da xanh xao, không đàn hồi, khô Lớp mỡ dưới da gần như biến mất Khuôn mặt gầy guộc Tóc móng khô, dễ gãy rụng Biểu hiện suy tim, suy gan, suy hô hấp do thiếu năng lượng kéo dài. Có thể gây tử vong nếu nhịn đói liên tục từ 8-12 ngày. Triệu chứng suy dinh dưỡng ở trẻ em Để đánh giá một trẻ suy dinh dưỡng một cách toàn diện, cần theo dõi các chỉ số sau Cân nặng theo tuổi. Chiều cao theo tuổi. Cân nặng theo chiều cao. Các dấu hiệu suy dinh dưỡng ở trẻ em khác nhau theo từng mức độ và từng thể suy dinh dưỡng. Có nhiều cách phân loại suy dinh dưỡng ở trẻ em. Thông thường, suy dinh dưỡng ở trẻ được chia làm 3 loại suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, suy dinh dưỡng thể thấp còi và suy dinh dưỡng thể gầy còm. Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân khi cân nặng của trẻ thấp hơn mức tiêu chuẩn của những trẻ cùng trong một độ tuổi và cùng giới tính. Giá trị cân nặng theo tuổi của trẻ nằm dưới đường biểu diễn -2SD Suy dinh dưỡng thể thấp còi khi chiều cao của trẻ thấp mức tiêu chuẩn của những trẻ cùng trong một độ tuổi và cùng giới tính. Giá trị chiều cao theo tuổi của trẻ nằm dưới đường biểu diễn -2SD. Đây là thể suy dinh dưỡng mãn tính, biểu hiện thấp còi trên lâm sàng là hậu quả của một quá trình suy dinh dưỡng kéo dài trong những năm đầu đời, có khi bắt đầu sớm từ tình trạng suy dinh dưỡng ngay khi còn trong bụng mẹ. Suy dinh dưỡng thể gầy còm khi cân nặng theo chiều cao của trẻ thấp hơn mức chuẩn của những trẻ cùng giới tính, tức là nằm dưới mức -2SD. Lúc này, cơ và mỡ bị teo đi nhiều. Đây là thể suy dinh dưỡng cấp tính, xảy ra trong thời gian ngắn. Có một cách khác để phân loại suy dinh dưỡng ở trẻ em là dựa vào hình thái, chia làm 3 loại suy dinh dưỡng thể teo đét, suy dinh dưỡng thể phù, suy dinh dưỡng thể hỗn hợp. Suy dinh dưỡng thể phù Kwashiokor Đây là thể suy dinh dưỡng nặng. Nhìn bên ngoài, trẻ có vẻ mặt tròn trịa đầy đặn nhưng tay chân khẳng khiu, teo nhỏ, trương lực cơ giảm. Trẻ có các triệu chứng như phù, rối loạn sắc tố da với những đốm màu đỏ sẫm hoặc đen và các biến chứng như thiếu máu kéo dài, còi xương, thiếu vitamin A gây khô giác mạc, quáng gà. Trẻ hay quấy khóc, tóc thưa dễ rụng, móng tay dễ gãy, nôn trớ, ỉa chảy cũng có thể là những biểu hiện của bệnh. Bố mẹ nếu thiếu hiểu biết có thể rất dễ bỏ qua khiến việc điều trị cho trẻ bị chậm trễ. Suy dinh dưỡng thể phù điều trị khó và tỷ lệ tỷ vong khá cao. Nguyên nhân của suy dinh dưỡng thể phù là do trẻ thiếu cung cấp protid, có thể kèm theo thiếu các vi chất dinh dưỡng như vitamin và các muối khoáng Suy dinh dưỡng thể teo đét Maramus Đây là thể suy dinh dưỡng nặng, do trẻ không được cung cấp đủ năng lượng. Trẻ rất gầy, trông như da bạo xương, vẻ mặt già cỗi, mất toàn bộ lớp mỡ dưới da và thường xuyên gặp phải các chứng rối loạn tiêu hóa. Trẻ chán ăn, ủ rũ, kém linh hoạt. Suy dinh dưỡng thể teo đét tiên lượng tốt hơn thể phù vì tổn thương các cơ quan ít hơn. Suy dinh dưỡng thể hỗn hợp Là sự phối hợp giữa suy dinh dưỡng thể teo đét và suy dinh dưỡng thể phù. Do trẻ không được cung cấp đủ protid và năng lượng. Có nhiều yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc bệnh suy dinh dưỡng bao gồm Người nghèo, có thu nhập thấp Người cao tuổi Người mắc nhiều bệnh lý cùng một lúc, hoặc mắc các bệnh lý nặng phải nằm viện lâu Người nghiện rượu do rượu gây viêm dạ dày và viêm tụy, giảm khả năng tiêu hóa và hấp thu thức ăn. Bên cạnh đó, uống nhiều rượu làm giảm cảm giác đói, người nghiện rượu luôn cảm thấy no nên không ăn uống đầy đủ. Có nhiều cách phòng ngừa bệnh suy dinh dưỡng hiệu quả Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời và kéo dài ít nhất hai năm. Chỉ cân nhắc cho trẻ sử dụng sữa công thức khi tình trạng không đủ sữa mẹ không giải quyết nhanh chóng được. Hướng dẫn các bà mẹ cho trẻ bú đúng cách. Ăn thức ăn phong phú các loại, thường xuyên thay đổi món ăn, kích thích ngon miệng Tăng cường các hoạt động thể chất thường xuyên để kích thích sự thèm ăn Điều trị triệt để các bệnh lý tại đường tiêu hóa cũng như các bệnh lý toàn thân. Gặp gỡ các chuyên gia tâm lý, bác sĩ tâm thần để được tư vấn và chữa trị các chứng rối loạn ăn uống và các rối loạn tâm thần khác có ảnh hưởng đến thói quen ăn uống. Thêm các bữa nhẹ xen kẽ giữa các bữa chính Không lạm dùng kháng sinh trong việc điều trị bệnh Thường xuyên theo dõi quá trình tăng trưởng của trẻ bằng biểu đồ Có biện pháp hỗ trợ phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân. Hướng dẫn cách lựa chọn thực phẩm một cách kinh tế và đầy đủ. Bác sĩ chẩn đoán suy dinh dưỡng dựa vào các biểu hiện lâm sàng và các chỉ số nhân trắc học. Suy dinh dưỡng ở trẻ em được chẩn đoán dựa vào các chỉ số Cân nặng theo tuổi, Chiều cao theo tuổi, Cân nặng theo chiều cao. Suy dinh dưỡng ở người lớn được chẩn đoán dựa vào chỉ số khối cơ thể BMI. Theo thang điểm phân loại của tổ chức y tế thế giới năm 2000 BMI 17 - <18,5 là gầy độ 1 BMI 16 – 16,99 là gầy độ 2 BMI <16 là gầy độ 3 Điều trị suy dinh dưỡng bao gồm điều trị triệu chứng và giải quyết nguyên nhân. Các bác sĩ sẽ xây dựng một kế hoạch điều trị và chăm sóc toàn diện với mục tiêu cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho bệnh nhân và phục hồi sức khỏe. Chế độ ăn uống bệnh nhân sẽ nhận được các lời khuyên về một chế độ ăn hợp lý, lành mạnh. Một chế độ ăn đúng phải đáp ứng được nhu cầu năng lượng của cơ thể từ đầy đủ các nhóm chất bao gồm protein, lipid, glucid, chất khoáng và vitamin. Nếu không bổ sung được bằng cách ăn uống thông thường có thể cân nhắc sử dụng thực phẩm chức năng hoặc thuốc uống. Lên kế hoạch chăm sóc kế hoạch được lập ra với các mục tiêu và cách thức thực hiện tùy từng trường hợp cụ thể. Người bị suy dinh dưỡng nặng hoặc không thể ăn nhai bằng đường miệng sẽ có chế độ ăn uống đặc biệt hơn. Nuôi ăn bằng ống sonde dạ dày được đặt qua miệng hoặc mũi và nuôi ăn bằng đường tĩnh mạch là hai cách hỗ trợ ăn uống nhân tạo đang được sử dụng. Theo dõi, đánh giá người bệnh cần được giám sát thường xuyên, kiểm tra cân nặng và các chỉ số nhân trắc học để đánh giá hiệu quả điều trị. Nhờ đó, giúp xác định được thời điểm phù hợp chuyển từ hỗ trợ ăn uống nhân tạo sang ăn uống bình thường, giúp giảm gánh nặng chăm sóc các bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng. Xem thêm Chế độ ăn uống, chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng thấp còi Phân biệt còi xương và suy dinh dưỡng Dinh dưỡng cho người suy nhược cơ thể

suy dinh dưỡng thể phù